Làm rõ thắc mắc về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

22/05/2020 22:15

Từ 15/5-14/6/2020, cảnh sát giao thông tổng kiểm soát, được phép dừng tất cả các xe để kiểm tra giấy tờ, trong đó có Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe cơ giới.

Trước vấn đề đó, báo chí đăng nhiều bài phản ánh tình trạng bán bảo hiểm bắt buộc TNDS xe máy không tuân thủ đúng quy định pháp luật (đại lý giảm giá, chiết khấu 30% cho khách hàng, thời hạn bảo hiểm xe máy 2 năm, công ty bảo hiểm từ chối bồi thường đối với bảo hiểm “vỉa hè”, bảo hiểm xe máy bán với giá 20.000 đồng/năm); bên cạnh đó, hồ sơ bồi thường bảo hiểm còn có những khó khăn.

Ảnh minh họa

 

Pháp luật hiện hành đã có quy định

Về các vấn đề nêu trên, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

Theo quy định của pháp luật kinh doanh bảo hiểm DNBH được quyền chủ động bán sản phẩm bảo hiểm dưới các hình thức sau: a) Trực tiếp; b) Thông qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm; c) Thông qua đấu thầu; d) Thông qua giao dịch điện tử; đ) Các hình thức khác phù hợp với quy định pháp luật. Trong đó, để làm đại lý, cá nhân phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định, bao gồm có chứng chỉ đạo tào đại lý bảo hiểm và phải ký hợp đồng đại lý với DNBH.

Như vậy, pháp luật hiện hành đã có quy định về hình thức bán sản phẩm bảo hiểm (bao gồm cả sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới), điều kiện hoạt động đại lý bảo hiểm. Việc người dân có thể mua bảo hiểm từ công ty tới vỉa hè là phụ thuộc vào hình thức bán sản phẩm bảo hiểm của từng DNBH.

Theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 8 Luật kinh doanh bảo hiểm: “1. Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.”. Nghị định số 103/2008/NĐ-CP cũng quy định chủ xe cơ giới và DNBH phải tham gia và bán bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới theo đúng Quy tắc, điều khoản, biểu phí do Bộ tài chính.

Triển khai trên thực tế, ngoài việc tham gia hợp đồng bảo hiểm TNDS bắt buộc, chủ xe cơ giới có thể thỏa thuận với DNBH để tham gia hợp đồng bảo hiểm tự nguyện về trách nhiệm đối với người ngồi trên xe (không phải lái xe). Phí bảo hiểm đối với bảo hiểm tự nguyện này là 10.000 đồng/người/năm, xe máy được chở tối đa 2 người có giá 20.000 đồng/2 người/năm, tương ứng với mức trách nhiệm bảo hiểm là 10 triệu đồng/người/vụ. Theo quy định hiện hành, DNBH được chủ động xây dựng, triển khai các sản phẩm bảo hiểm tự nguyện phù hợp với quy định pháp luật kinh doanh bảo hiểm và quy định pháp luật có liên quan.

Trường hợp có bằng chứng chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm cho phép đại lý giảm giá các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị xem xét, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP ngày 16/9/2008 của Chính phủ.

Theo quy định tại Điều 14 Thông tư số 22/2016/TT-BTC, DNBH có trách nhiệm phối hợp với chủ xe cơ giới, người bị thiệt hại, cơ quan công an và các tổ chức, cá nhân có liên quan khác để thu thập Hồ sơ bồi thường và quy định rõ các tài liệu mà chủ xe cơ giới có nghĩa vụ cung cấp, các tài liệu DNBH có nghĩa vụ thu thập, cụ thể: Đối với chủ xe, phải cung cấp các tài liệu liên quan đến xe, lái xe (giấy đăng ký xe, giấy phép lái xe...); các tài liệu chứng minh thiệt hại về người (Giấy ra viện, Giấy chứng nhận phẫu thuật, Hồ sơ bệnh án, Giấy chứng tử,...); Các giấy tờ chứng minh chi phí mà chủ xe đã chi để giảm thiểu tổn thất hay để thực hiện theo chỉ dẫn của DNBH (Điểm c, Khoản 6, Điều 17). DNBH có nghĩa vụ thu thập các tài liệu liên quan đến thiệt hại về tài sản (như hóa đơn sửa chữa, thay mới tài sản bị thiệt hại); Các tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn (như biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn, thông báo sơ bộ kết quả điều tra ban đầu vụ tai nạn giao thông...); Biên bản giám định xác định nguyên nhân và mức độ thiệt hại do DNBH hoặc người được DNBH ủy quyền lập; Các tài liệu có liên quan đến vụ tai nạn (nếu có) (Khoản 7, Điều 19).

Như vậy, quy định hiện hành đã được xây dựng theo hướng quy định rõ các loại tài liệu cần phải thu thập để chứng minh rõ mức độ trách nhiệm dân sự (lỗi, mức độ thiệt hại) của chủ xe cơ giới đối với bên thứ ba nhằm đảm bảo quyền lợi của tất cả các bên, bao gồm chủ xe và DNBH, hạn chế gian lận bảo hiểm và trục lợi chinh sách. Tuy nhiên, để giảm bớt gánh nặng thủ tục cho chủ xe, người lái xe, DNBH có trách nhiệm cho phối hợp với chủ xe cơ giới, nạn nhân và các bên liên quan để thu thập hồ sơ bồi thường bảo hiểm; đặc biệt việc thu thập các tài liệu liên quan đến tai nạn giao thông từ các cơ quan có thẩm quyền (cảnh sát giao thông, cảnh sát điều tra) là trách nhiệm của DNBH. 

Hiện nay, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 103/2008/NĐ-CP, theo đó đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ bồi thường bảo hiểm theo hướng giảm nhẹ gánh nặng thủ tục cho chủ xe, lái xe, tăng tính chủ động và trách nhiệm của các DNBH trong việc thu thập hồ sơ bồi thường, rút ngắn thời gian tạm ứng bồi thường; mở rộng phạm vi và mức chi hỗ trợ bồi thường nhân đạo từ Quỹ bảo hiểm xe cơ giới…. Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ dự thảo Nghị định trong tháng 5/2020 (hiện Cục QLBH đã trình Bộ để xem xét, trình Chính phủ).

Triển khai nhiều giải pháp

Ngay khi nhận được phản ánh của một số cơ quan báo chí, Bộ Tài chính đã có văn bản (Công văn số 189/QLBH-PNT ngày 20/5/2020) yêu cầu các DNBH thực hiện ngay một số công việc, cụ thể:

Chủ động kiểm tra, rà soát việc triển khai bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới trong toàn hệ thống, đảm bảo thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Trường hợp phát hiện các hành vi vi phạm tiến hành chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cung cấp thông tin, giải thích rõ cho chủ xe về chính sách bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới.

Trường hợp các DNBH vi phạm, tùy theo mức độ, Cục QLBH sẽ xem xét, xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Bộ Tài chính sẽ giám sát theo dõi, cập nhật tình hình triển khai bán bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới qua để kịp thời có các công văn hướng dẫn, chỉ đạo các DNBH. Đồng thời, Bộ Tài chính sẽ sớm phối hợp với Bộ Công an, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam, UBQG về An toàn giao thông và các cơ quan báo chí  thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra tình hình triển khai bán bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, kịp thời phát hiện, xử phạt vi phạm hành chính các DNBH vi phạm quy định.

Bộ Tài chính sẽ phối hợp với các cơ quan liên quan và các DNBH tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để người dân nắm rõ được chính sách, ý nghĩa của chính sách bảo hiểm bắt buộc TNDS xe cơ giới, từ đó, chủ động và tích cực tham gia. Song hành với đó, việc mở rộng mạng lưới phân phối, đa dạng hình thức cung cấp dịch vụ, đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hiểm; cũng như việc nâng cao trình độ, kỹ năng tư vấn của đội ngũ cán bộ khai thác bảo hiểm, chăm sóc khác hàng, đội ngũ đại lý bảo hiểm;… là các vấn đề mà cơ quan quản lý, cũng như các DNBH phải thực sự chú trọng, đảm bảo phát huy tính nhân văn của chế độ này là bảo vệ tài chính cho các nạn nhân của các vụ tai nạn giao thông đường bộ thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản, ngay cả khi không xác định được xe gây tai nạn, xe không tham gia bảo hiểm hoặc tai nạn không thuộc phạm vi bảo hiểm.

Để giải quyết cơ bản, căn cơ mang tính lâu dài, hạn chế tối đa việc bán bảo hiểm như báo chí đã phản ánh thời gian qua, hiện nay Bộ Tài chính đã phối hợp với Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tư pháp, UBQG về An toàn giao thông, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các DNBH xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số 103/2008/NĐ-CP nhằm hoàn thiện chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới theo hướng:

Ứng dụng thương mại điện tử trong việc bán bảo hiểm, cấp Giấy CNBH điện tử; tạo điều kiện cho DNBH chủ động thiết kế, xây dựng mẫu Giấy CNBH nhưng vẫn đảm bảo công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc.  

Mức phí bảo hiểm tương ứng với rủi ro của xe cơ giới (bao gồm xe máy), chủ xe và người lái xe; tăng mức trách nhiệm bảo hiểm cơ bản đảm bảo chi phí thực tế về giá dịch vụ khám, điều trị, chăm sóc y tế và chi phí khắc phục thiệt hại đối với tài sản.

Quy định linh hoạt thời hạn bảo hiểm theo hướng tối thiểu là 1 năm và tối đa là 3 năm đối với xe máy và tối thiểu là 1 năm và tối đa tương ứng với thời hạn kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô.

Mở rộng phạm vi và rút ngắn thời gian tạm ứng bồi thường nhằm kịp thời đảm bảo nạn nhân và gia đình có nguồn kinh phí điều trị y tế.

Cụ thể hóa hồ sơ bồi thường bảo hiểm theo hướng đơn giản hóa, tăng trách nhiệm và tính chủ động của DNBH nhưng vẫn đảm bảo phòng, chống gian lận bảo hiểm.

Mở rộng phạm vi và nâng mức hỗ trợ nhân đạo.

Xây dựng cơ sở dữ liệu bảo hiểm phục vụ mục tiêu quản lý, giám sát chặt chẽ việc thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới (bao gồm xe máy).

Dự kiến trong tháng 5/2020, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến đối với hồ sơ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 103/2008/NĐ-CP.

Bộ Tài chính đang trong quá trình nghiên cứu, xây dựng dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2021. Bộ Tài chính sẽ nghiên cứu, đánh giá tác động và tiếp tục xin ý kiến rộng rãi của tất cả các bên liên quan, các đối tượng chịu tác động của chính sách để có cơ sở để xuất hoàn thiện chế độ bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới, bao gồm quy định bảo hiểm TNDS bắt buộc đối với xe máy.

Theo Minh Anh

"https://thuonghieucongluan.com.vn/lam-ro-thac-mac-ve-bao-hiem-bat-buoc-trach-nhiem-dan-su-cua-chu-xe-co-gioi-a99773.html"

Bạn đang đọc bài viết "Làm rõ thắc mắc về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới" tại chuyên mục XÃ HỘI. Mọi bài vở cộng tác xin gọi hotline (0949.685.111) hoặc gửi về địa chỉ email banvideo.dntt@gmail.com).